Công ty cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (SHN) / Wed, 04 Mar 2026 09:17:01 +0000 vi-VN hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.4.3 /wp-content/uploads/2024/03/cropped-cropped-LOGO-SHN-01-1-32x32.png Công ty cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (SHN) / 32 32 Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (SHN) chính thức vận hành Hệ thống quản trị nhân sự (HRM) /cong-ty-co-phan-dau-tu-tong-hop-ha-noi-shn-chinh-thuc-van-hanh-he-thong-quan-tri-nhan-su-hrm/ /cong-ty-co-phan-dau-tu-tong-hop-ha-noi-shn-chinh-thuc-van-hanh-he-thong-quan-tri-nhan-su-hrm/#respond Tue, 03 Mar 2026 09:16:04 +0000 /?p=3577 Nhằm từng bước hiện đại hóa công tác quản trị, nâng cao hiệu quả điều hành và phát triển nguồn nhân lực theo định hướng bền vững, Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (SHN) đã chính thức triển khai và đưa vào vận hành Hệ thống quản trị nhân sự (Human Resource Management – HRM) trên toàn Công ty.

Việc triển khai Hệ thống HRM là một trong những nội dung trọng tâm trong lộ trình chuyển đổi số của SHN, hướng tới xây dựng mô hình quản trị doanh nghiệp hiện đại, minh bạch và chuyên nghiệp.

Tổng Giám đốc Công ty – Ông Vũ Thắng đã có bài phát biểu và khẳng định rằng Hệ thống HRM là nền tảng chính thức và thống nhất để thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ liên quan đến nhân sự, bao gồm quản lý hồ sơ nhân sự, chấm công, nghỉ phép, làm thêm giờ, công tác và các quy trình phê duyệt liên quan. Việc đưa Hệ thống HRM vào hoạt động không chỉ là bước tiến về mặt công nghệ, mà còn thể hiện cam kết của Công ty trong việc coi con người là yếu tố trung tâm của sự phát triển, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Buổi lễ ghi nhận sự tham gia và những chia sẻ thiết thực từ các đối tác triển khai Hệ thống HRM là Công ty TNHH IZISolution. Trong phần trao đổi và thảo luận, đại diện các đối tác đã trực tiếp giải đáp các ý kiến, thắc mắc của Ban Lãnh đạo và cán bộ, nhân viên Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (SHN); đồng thời đề xuất các giải pháp, phương án triển khai phù hợp, kế hoạch vận hành cụ thể và khẳng định cam kết đồng hành cùng SHN trong suốt quá trình triển khai, vận hành và tối ưu hiệu quả Hệ thống quản trị nhân sự (HRM).

Thông qua việc áp dụng Hệ thống HRM, Công ty SHN kỳ vọng sẽ chuẩn hóa dữ liệu nhân sự, tăng cường tính kết nối giữa các đơn vị, phòng ban; đồng thời hỗ trợ Ban Lãnh đạo trong công tác quản lý, điều hành, ra quyết định dựa trên dữ liệu một cách kịp thời và chính xác. Hệ thống cũng góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản trị nhân sự, tạo nền tảng cho việc xây dựng môi trường làm việc chuyên nghiệp, công bằng và hiệu quả.

Việc chính thức đưa Hệ thống quản trị nhân sự (HRM) vào vận hành là dấu mốc quan trọng, thể hiện quyết tâm của Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (SHN) trong việc hiện đại hóa công tác quản trị, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

]]>
/cong-ty-co-phan-dau-tu-tong-hop-ha-noi-shn-chinh-thuc-van-hanh-he-thong-quan-tri-nhan-su-hrm/feed/ 0
Lá»… ký kết hợp đồng mua bán than năm 2026 và giai Ä‘oạn 2026 – 2030 giữa Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Ná»™i và Tổng Công ty Đông Bắc /3488/ /3488/#respond Sun, 14 Dec 2025 16:33:19 +0000 /?p=3488 Tham dá»± buổi lá»…, về phía Công ty cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Ná»™i, có ông Lưu Anh Tuấn – Tổng Giám đốc, ông Nguyá»…n Văn Trường – Phó Tổng Giám đốc, ông Nguyá»…n Trung Thành – Giám đốc Hành chính nhân sá»± cùng lãnh đạo các ban, phòng chuyên môn cá»§a Công ty; về phía Tổng Công ty Đông Bắc, có Đại tá VÅ© Sỹ Thắng – Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Đông Bắc (Phó Tư lệnh Binh Ä‘oàn 19, phụ trách lÄ©nh vá»±c kinh tế – quốc phòng); Đại tá Trương Văn LÅ©y – Giám đốc Công ty cổ phần Than Sông Hồng, cùng đại diện lãnh đạo má»™t số đơn vị thành viên và cán bá»™ chuyên môn.

Trên cơ sở trao đổi thẳng thắn, cởi mở và thống nhất cao về định hướng hợp tác, hai bên đã chính thức ký kết biên bản đàm phán hợp đồng mua bán than dài hạn trong thời hạn 05 năm, từ năm 2026 đến năm 2030. Đồng thời, hai bên cũng ký kết biên bản thương thảo hợp đồng mua bán than cho năm 2026, tạo tiền đề quan trọng trong việc ổn định cung cấp than cho nhà máy nhiệt điện ngay trong quý I/2026. Thỏa thuận giữa Tổng Công ty Đông Bắc và Công ty cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội đã cụ thể hóa Chỉ thị 30/CT-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ.

Việc ký kết các thỏa thuận hợp tác lần này không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế, thương mại, mà còn thể hiện sự tin cậy, đồng hành và cam kết hợp tác lâu dài giữa hai doanh nghiệp. Đối với Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội, đây là mục tiêu quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và chủ động được nguồn cung than ổn định, liên tục, đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh khó dự đoán về thị trường, thời tiết,…. Đối với Tổng Công ty Đông Bắc, thỏa thuận hợp tác nêu trên tiếp tục khẳng định vai trò, uy tín và vị thế của doanh nghiệp quốc phòng trong việc bảo đảm nguồn cung than cho nền kinh tế, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh.

Lễ ký kết diễn ra trong không khí trang trọng, phản ánh quyết tâm chung trong việc xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược, phát triển bền vững và lâu dài. Mục đích chung của hai bên là tăng cường, hoạt động hiệu quả sản xuất kinh doanh; đồng thời, góp phần tích cực vào nhiệm vụ bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy phát triển ngành than, phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển của ngành Công Thương và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

]]>
/3488/feed/ 0
Lễ Kick-off khởi động 3 dự án chuyển đổi số tại trụ sở Hà Nội /le-kick-off-khoi-dong-3-du-an-chuyen-doi-so-tai-tru-so-ha-noi/ /le-kick-off-khoi-dong-3-du-an-chuyen-doi-so-tai-tru-so-ha-noi/#respond Tue, 07 Oct 2025 17:10:22 +0000 /?p=3425 Sáng ngày 22/9/2025, Công ty Cổ phần Đầu tư Tổng hợp Hà Nội (“SHN”) đã long trọng tổ chức Lễ Kick-off khởi động 3 dự án chuyển đổi số tại trụ sở Hà Nội. Đây là sự kiện quan trọng, thể hiện quyết tâm của SHN trong việc hiện thực hóa chiến lược số hóa toàn diện, chuẩn hóa quy trình quản lý và nâng cao hiệu quả vận hành doanh nghiệp.


Phát biểu khai mạc buổi lá»…, ông Lưu Tuấn Anh – Tổng Giám đốc công ty SHN nhấn mạnh: “Chuyển đổi số không chỉ là xu thế tất yếu cá»§a thị trường mà còn là chìa khóa giúp SHN tối ưu nguồn lá»±c, nâng cao năng lá»±c cạnh tranh và hướng tá»›i sá»± phát triển bền vững. Trên cÆ¡ sở định hướng và tư vấn từ Ban Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số cá»§a Tập Ä‘oàn, SHN đã quyết định triển khai đồng thời 03 dá»± án: E-Office, HRM và Nâng cấp phần mềm Kế toán Fast Business Online. Đây là bước Ä‘i quan trọng nhằm đảm bảo quá trình chuyển đổi số cá»§a Công ty phù hợp vá»›i lá»™ trình chung cá»§a Tập Ä‘oàn.
Tôi tin rằng, với sự đồng lòng và nỗ lực của toàn thể CBNV, SHN sẽ triển khai thành công các dự án này. Công nghệ thông tin sẽ trở thành công cụ hữu hiệu hỗ trợ từng cá nhân xử lý công việc nhanh chóng, đồng thời tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng/ban, qua đó nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch chung của Công ty.”

Ông Lưu Tuấn Anh – TGĐ công ty SHN phát biểu khai mạc buổi lễ

Tại sự kiện, đại diện Ban Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số đã giới thiệu chi tiết về ba dự án quan trọng, bao gồm:
1. Văn phòng điện tử (E-Office)
o Xây dựng hệ thống quản trị công việc và văn bản trên nền tảng số.
o Giúp CBNV xử lý công việc nhanh chóng, giảm thiểu giấy tờ, tạo môi trường làm việc hiện đại và minh bạch.
2. Hệ thống quản lý nhân sự (HRM)
o Hệ thống đa nền tảng, bao gồm quản lý dữ liệu nhân sự, phân quyền, cấu hình quy trình và biểu mẫu.
o Các bước triển khai gồm: chuẩn hóa dữ liệu, khởi tạo hệ thống, kiểm tra, đào tạo người dùng và Go-live.
o Dự án kỳ vọng sẽ nâng cao tính chính xác trong quản lý nhân sự, đồng thời hỗ trợ hiệu quả công tác hoạch định và phát triển nguồn nhân lực.

Ông Trần Thế Anh – Phó Ban Công nghệ thông tin – Chuyển đổi số chia sẻ về các dá»± án

3. Hệ thống phần mềm Kế toán Fast Business Online
o Giải pháp quản trị tổng thể doanh nghiệp, bao gồm nhiều phân hệ: kế toán, tài chính, bán hàng, mua hàng…
o Hệ thống giúp SHN kết nối, đồng bộ dữ liệu giữa các phòng ban, đảm bảo tính minh bạch, chính xác và kịp thời trong điều hành.

Ông Nguyá»…n Mạnh Hùng – Chuyên gia QLDA, Ban Công nghệ thông tin – Chuyển đổi số thuyết trình về 02 dá»± án: E-Office, HRM

Buổi lễ cũng ghi nhận sự tham gia và chia sẻ từ các đối tác Công ty cổ phần giải pháp công nghệ Fanxipan Việt Nam và công ty TNHH IZISolution. Tại phần thảo luận, đại diện các đối tác đã giải đáp các thắc mắc tới từ Ban Lãnh đạo và CBNV công ty SHN và đưa ra phương pháp, kế hoạch và cam kết đồng hành cùng SHN trong suốt quá trình triển khai, đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng.


Đại diện công ty TNHH IZISolution chia sẻ quyết tâm đồng hành cùng SHN

Đại diện Công ty cổ phần giải pháp công nghệ Fanxipan Việt Nam giải đáp thắc mắc đến từ BLĐ công ty SHN
Buổi lễ khép lại trong không khí phấn khởi, thể hiện sự quyết tâm mạnh mẽ từ Ban Lãnh đạo SHN cũng như toàn thể CBNV các đơn vị triển khai. Sự kiện Kick-off ngày 22/9/2025 không chỉ là cột mốc mở đầu, mà còn là lời khẳng định: SHN sẵn sàng bước vào hành trình chuyển đổi số toàn diện, đồng hành cùng thời đại mới.

 

 

 

 

 

]]>
/le-kick-off-khoi-dong-3-du-an-chuyen-doi-so-tai-tru-so-ha-noi/feed/ 0
Báo cáo BCTC kiểm toán 6 tháng đầu năm 2024 /bao-cao-bctc-kiem-toan-6-thang-dau-nam-2024/ /bao-cao-bctc-kiem-toan-6-thang-dau-nam-2024/#respond Tue, 20 Aug 2024 10:11:05 +0000 /?p=2856 32.2024.CBTT.SHN 20.08.2024 Công bố thông tin báo cáo tài chính

33.2024.CBTT.SHN 20.08.2024 Giải trình chênh lệch lợi nhuận sau thuế tại BCTC riêng 6 tháng đầu năm 2024 đã kiểm toán so với cùng kỳ năm trước

34.2024.CBTT.SHN 20.08.2024 Giải trình chênh lệch lợi nhuận sau thuế tại BCTC hợp nhất 6 tháng đầu năm 2024 đã kiểm so với cùng kỳ năm trước

Báo cáo kiểm toán hợp nhất 6 tháng đầu năm 2024

Báo cáo kiểm toán riêng 6 tháng đầu năm 2024

]]>
/bao-cao-bctc-kiem-toan-6-thang-dau-nam-2024/feed/ 0
Thông báo về việc miễn nhiệm, bổ nhiệm người phụ trách quản trị công ty /thong-bao-ve-viec-mien-nhiem-bo-nhiem-nguoi-phu-trach-quan-tri-cong-ty/ /thong-bao-ve-viec-mien-nhiem-bo-nhiem-nguoi-phu-trach-quan-tri-cong-ty/#respond Tue, 20 Aug 2024 03:29:58 +0000 /?p=2835 2024.08.13 NQ số 19.2024-NQ-HĐQT về việc miễn nhiệm, bổ nhiệm Người phụ trách quản trị Công ty

]]>
/thong-bao-ve-viec-mien-nhiem-bo-nhiem-nguoi-phu-trach-quan-tri-cong-ty/feed/ 0
Thông báo về việc miá»…n nhiệm, bổ nhiệm người phụ trách quản trị công ty /thong-bao-ve-viec-mien-nhiem-bo-nhiem-nguoi-phu-trach-quan-tri-cong-ty-2/ /thong-bao-ve-viec-mien-nhiem-bo-nhiem-nguoi-phu-trach-quan-tri-cong-ty-2/#respond Wed, 14 Aug 2024 07:47:42 +0000 /?p=2839 2024.08.13 NQ số 19.2024-NQ-HĐQT về việc miá»…n nhiệm, bổ nhiệm Người phụ trách quản trị Công ty – click chọn để xem chi tiết

]]>
/thong-bao-ve-viec-mien-nhiem-bo-nhiem-nguoi-phu-trach-quan-tri-cong-ty-2/feed/ 0
Đơn giản hóa thủ tục cho những thửa đất chưa được đăng ký, cấp giấy chứng nhận /don-gian-hoa-thu-tuc-cho-nhung-thua-dat-chua-duoc-dang-ky-cap-giay-chung-nhan/ /don-gian-hoa-thu-tuc-cho-nhung-thua-dat-chua-duoc-dang-ky-cap-giay-chung-nhan/#respond Wed, 19 Jun 2024 04:00:19 +0000 /?p=2758 Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà gợi mở một số giải pháp xử lý những thửa đất chưa được đăng ký, cấp giấy chứng nhận như tiếp tục đơn giản hóa thủ tục; miễn giảm các loại phí, hỗ trợ chi phí, cho nợ đối với người sử dụng đất.

Ngày 12/6, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp với các bộ, ngành, hiệp hội, chuyên gia và kết nối trực tuyến với 63 địa phương về dự thảo Nghị định quy định về điều tra cơ bản đất đai ; đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai (dự thảo Nghị định).

Theo ông Hà, hoạt động điều tra cơ bản đất đai là thông tin đầu vào hết sức quan trọng và cần thay đổi tư duy trong xác định những khu vực cần điều tra, các thông số sát thực tế, chính xác để phục vụ cho công tác quản lý, theo dõi biến động tài nguyên đất quốc gia.

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà.

Từ thực trạng thiếu thông tin chính xác, tin cậy về hồ sơ, bản đồ địa chính, trong khi dữ liệu đất đai biến động thường xuyên, Phó Thủ tướng cho rằng nhất định phải số hóa, nhằm thiết lập hệ thống quản trị hiệu quả, giải quyết căn cơ những bất cập, hạn chế trong quản lý đất đai, giảm nhiêu khê, phiền hà cho người dân , tổ chức, doanh nghiệp.

“Nghị định có liên quan đến quyền lợi ích của người dân, tổ chức, doanh nghiệp nên cần quy định rõ ràng, minh bạch, đơn giản hoá thủ tục”, ông Hà lưu ý.

Phó Thủ tướng cũng gợi mở một số giải pháp xử lý những thửa đất chưa được đăng ký, cấp giấy chứng nhận như: Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục; miễn giảm các loại phí, hỗ trợ chi phí, cho nợ đối với người sử dụng đất; có chế tài về hoạt động giao dịch với những thửa đất chưa có giấy chứng nhận…

“Đối vá»›i thá»­a đất đăng ký, cấp giấy chứng nhận lần đầu cần giải quyết dứt Ä‘iểm các tranh chấp (nếu có) theo quy định pháp luật về khiếu nại tố cáo”, Phó Thá»§ tướng lưu ý.

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), dự thảo Nghị định gồm 5 chương, 68 điều quy định chi tiết 11 nội dung được giao trong Luật Đất đai.

Nghị định được ban hành nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; chuyển trọng tâm từ quản lý bằng các công cụ hành chính sang sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế để thúc đẩy sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, bền vững.

Hiện đại hóa, chuyển đổi số công tác quản lý đất đai dựa trên hệ thống thông tin, dữ liệu đất đai thống nhất, tập trung, phục vụ đa mục tiêu kết nối từ Trung ương đến địa phương, quản lý biến động đến từng thửa đất.

Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền Ä‘i đôi vá»›i giám sát, kiểm soát quyền lá»±c cá»§a cÆ¡ quan và người có thẩm quyền trong quản lý đất Ä‘ai. Tăng cường vai trò giám sát cá»§a Quốc há»™i, HĐND, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã há»™i các cấp và nhân dân.

“Nghị định sau khi được ban hành, các cÆ¡ quan không được yêu cầu thêm giấy tờ không có trong quy định về hồ sÆ¡, thá»§ tục”, ông Mai Văn Phấn, Cục trưởng Cục Đăng ký và Dữ liệu thông tin đất Ä‘ai (Bá»™ TN&MT) khẳng định.

Theo Văn Kiên

Tiền phong

]]>
/don-gian-hoa-thu-tuc-cho-nhung-thua-dat-chua-duoc-dang-ky-cap-giay-chung-nhan/feed/ 0
Luật Đất đai 2024 khai mở cơ hội lớn cho thị trường BĐS /luat-dat-dai-2024-khai-mo-co-hoi-lon-cho-thi-truong-bds/ /luat-dat-dai-2024-khai-mo-co-hoi-lon-cho-thi-truong-bds/#respond Wed, 19 Jun 2024 03:53:45 +0000 /?p=2744

Luật Đất đai 2024 sau khi được áp dụng sẽ giúp “thanh lọc” thị trường, gia tăng tính cạnh tranh, để tồn tại các doanh nghiệp buộc phải hoạt động chuyên nghiệp hơn.

So với Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 được đề xuất có hiệu lực thi hành từ 01/08/2024 có những sửa đổi, bổ sung với nhiều điểm tiến bộ, ảnh hưởng trên mọi phương diện của thị trường BĐS.

Luật Đất đai 2024 sửa đổi và bổ sung nguyên tắc sử dụng đất theo tiêu chí đúng quy hoạch, đúng kế hoạch sử dụng đất; công khai và minh bạch. Đồng thời, hoàn thiện các quy định cụ thể về việc giao đất, cho thuê đất thông qua đấu thầu; hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; nhằm bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư.

Điều này trong tương lai giúp chá»§ đầu tư tiếp cận đất Ä‘ai má»™t cách tinh gọn, thuận lợi hÆ¡n thông qua các quyết định hành chính về thu hồi đất, thay vì phải thỏa thuận vá»›i người sá»­ dụng đất để “mua gom” thông qua cÆ¡ chế thị trường. Đối vá»›i nhà đầu tư và người mua các dá»± án được phát triển từ quỹ đất theo Luật má»›i đảm bảo xóa bỏ vướng mắc pháp lý về sau.

Bên cạnh đó, khi các dá»± án BĐS, nhà ở thương mại Ä‘ang bị vướng sẽ được gỡ rối sau khi Luật má»›i được áp dụng, giải quyết bài toán về nguồn cung trên thị trường BĐS. Khi khoảng cách cung cầu được “kéo gần” sẽ góp má»™t phần đáng kể bình ổn giá bất động sản.

Điểm thay đổi đáng chú ý tiếp theo, đó là hoàn thiện cơ chế xác định giá đất. Luật Đất đai 2024 bãi bỏ khung giá đất thay vào đó bảng giá đất được xây dựng hằng năm thông qua 05 phương pháp định giá với sự kiểm tra và giám sát của Trung ương và Hội đồng nhân dân. Trong tương lai, khi hoàn thiện cơ sở dữ liệu về giá đất, các thông tin mua bán chuyển nhượng sẽ được công khai giúp người mua nắm rõ khung giá, tăng cường tính minh bạch cho thị trường BĐS. Việc mua bán chuyển nhượng BĐS sẽ diễn ra dễ dàng và an toàn hơn, giúp tăng tính thanh khoản cho thị trường.

Ngoài ra, Luật Đất đai 2024 cũng mở rộng cơ hội sở hữu BĐS tại Việt Nam cho người gốc Việt sống tại nước ngoài. Điều này giúp mở cửa cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, tăng thu ngoại tệ cho nền kinh tế trong nước.

Theo góc nhìn tổng quan về Luật Đất Ä‘ai 2024, Tiến sÄ© Trần Nguyá»…n Minh Hải, chuyên gia địa ốc Đại học ngân hàng TPHCM chia sẻ, “Luật Đất Ä‘ai 2024 sau khi được áp dụng sẽ là má»™t cuá»™c “thanh lọc” thị trường, gia tăng tính cạnh tranh, để tồn tại các doanh nghiệp buá»™c phải hoạt động chuyên nghiệp hÆ¡n.”

Thị trường BĐS thay đổi theo hướng tích cực, hạn chế rủi ro cho cả người bán và người mua.

Như vậy, trong bối cảnh mới, các chủ đầu tư cần có đủ sự chuyên nghiệp và năng lực thực sự; các dự án bất động sản cũng sẽ được thu hẹp về số lượng nhưng không ngừng mở rộng và nâng cao chất lượng cũng như các tiện ích, hạ tầng. Điều đó sẽ giúp thị trường phát triển theo chiều sâu, hướng tới chuyên nghiệp.

Đón đầu những thay đổi tích cá»±c cá»§a Luật Đất Ä‘ai 2024, nhiều chá»§ đầu tư “thá»±c lá»±c” đã có sá»± chuẩn bị về sản phẩm tung ra thị trường, có sá»± đầu tư bài bản và chỉn chu về chất lượng cÅ©ng như pháp lý và tiến độ xây dá»±ng nhằm thu hút khách hàng – nhà đầu tư. Tiêu biểu ở thị trường Nam Sài Gòn có dá»± án Khải Hoàn Prime được đầu tư theo phong cách Resort ven sông.

Phối cảnh dự án Khải Hoàn Prime – Căn hộ Resort ven sông liền kề Phú Mỹ Hưng

Khải Hoàn Prime cũng là một trong số ít các dự án ra mắt vào thời kỳ các chính sách, quy định mới của Luật Đất đai 2024 hoàn thiện. Dự án tọa lạc trên trục đường chính Lê Văn Lương, cách khu đô thị Phú Mỹ Hưng 5km phù hợp làm nơi an cư của cư dân trong và ngoài nước đang làm việc tại quận 7, quận 1, quận 8. Khải Hoàn Prime sở hữu hệ tiện ích đẳng cấp bậc nhất khu vực và được xây dựng trên tiêu chuẩn căn hộ Resort ven sông Cầu Đạo: Hồ bơi muối khoáng, BBQ riverside, quảng trường ánh sáng, 03 công viên chuyên đề, … với ¾ diện tích là mảng xanh và tiện ích xanh. Sự kiện ra mắt giai đoạn 2 của Khải Hoàn Prime vừa diễn ra hồi đầu tháng 6 cũng nhận được sự quan tâm và thu hút đông đảo khách hàng tại TP.HCM và các khu vực lân cận.

Dự án đảm bảo pháp lý hoàn chỉnh, chất lượng xây dựng và tiến độ vượt trội, được bảo chứng bởi uy tín chủ đầu tư với tiềm lực tài chính vững mạnh mang lại sự an tâm toàn diện cho người mua và nhà đầu tư, đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bất động sản trong thời gian tới.

Dự án Khải Hoàn Prime – Cao ốc căn hộ tại xã Nhơn Đức, Huyện Nhà Bè.

Ánh Dương

Tổ Quốc

]]>
/luat-dat-dai-2024-khai-mo-co-hoi-lon-cho-thi-truong-bds/feed/ 0
Từ những chuyển biến trong vÄ© mô đến cÆ¡ há»™i cho doanh nghiệp trong các lÄ©nh vá»±c xuất khẩu, BĐS khu công nghiệp, FMCG… /tu-nhung-chuyen-bien-trong-vi-mo-den-co-hoi-cho-doanh-nghiep-trong-cac-linh-vuc-xuat-khau-bds-khu-cong-nghiep-fmcg/ /tu-nhung-chuyen-bien-trong-vi-mo-den-co-hoi-cho-doanh-nghiep-trong-cac-linh-vuc-xuat-khau-bds-khu-cong-nghiep-fmcg/#respond Mon, 18 Mar 2024 10:20:48 +0000 /?p=2451

Từ những chuyển biến trong tình hình kinh tế vÄ© mô…

Theo báo cáo của S&P Global, chỉ số Nhà Quản trị Mua hàng (PMI) ngành sản xuất của Việt Nam đạt kết quả 50,4 trong tháng 2, tăng nhẹ so với 50,3 điểm của tháng 1 và nằm trên ngưỡng 50 điểm tháng thứ hai liên tiếp. Cả sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới đều tăng tháng thứ hai liên tiếp.

Báo cáo của Ngân hàng UOB đánh giá, những dữ liệu này cho thấy động lực chung trong lĩnh vực sản xuất và thương mại bên ngoài đang có những dấu hiệu tích cực. UOB cũng kỳ vọng tốc độ này sẽ duy trì, đặc biệt trong nửa cuối năm 2024 khi sự phục hồi trong lĩnh vực bán dẫn vững chắc hơn và các ngân hàng trung ương toàn cầu bắt đầu vận hành chính sách lãi suất phù hợp hơn.

UOB dự báo tăng trưởng của Việt Nam ở mức 6% cho năm 2024, nằm trong mục tiêu chính thức là 6-6,5%. Trong quý 1/2024, UOB kỳ vọng tốc độ tăng trưởng GDP sẽ ở mức 5,5% so với cùng kỳ do ảnh hưởng của kỳ nghỉ tết Nguyên đán. UOB cũng dự báo, áp lực lạm phát sẽ tiếp tục tăng, với dự báo CPI toàn phần sẽ tăng lên mức 3,8% vào năm 2024, từ mức 3,25% vào năm 2023.

 

Ngoài ra, UOB cũng dự báo VND có khả năng phục hồi nhẹ. Tỷ giá USD/VND giao dịch lên mức cao mới 24.700 vào cuối tháng 2 cùng với sự mạnh lên của USD so với các đồng tiền châu Á. Bất chấp sự suy yếu trong ngắn hạn của đồng VND, kỳ vọng về tốc độ tăng trưởng GDP mạnh hơn ở Việt và đà phục hồi trong lĩnh vực sản xuất và ngoại thương là những yếu tố tích cực có thể giúp ổn định đồng VND. Bên cạnh đó, sự phục hồi tiếp theo của CNY – mà VND thường có cùng xu hướng – cùng với sự suy yếu của USD trước đợt cắt giảm lãi suất của Fed vào tháng 6 sẽ mang lại sự phục hồi nhẹ cho VND.

… Đến cÆ¡ há»™i cho các doanh nghiệp trong năm 2024

Dự báo về từng ngành, theo Vndirect Research, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu , kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể phục hồi trong những quý tiếp theo. Nguyên nhân vì tồn kho hàng nội thất, đồ may mặc và thực phẩm giảm dần sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy nhập khẩu tại các thị trường chính vào mùa lễ hội sẽ thúc đẩy đơn đặt hàng mới từ nửa cuối năm 2024.

Chỉ số niềm tin người tiêu dùng tại Mỹ và EU tăng trở lại trong tháng 12/2023 từ mức giảm trong tháng 11/2023 , điều này cho thấy kỳ vọng của người dân về tình hình tài chính trong thời gian tới trở nên lạc quan hơn, nhờ đó có thể thúc đẩy tiêu dùng trong 2024.

Đối với ngành cảng và vận tải biển, hoạt động thương mại phục hồi có thể sẽ hỗ trợ cho khả năng phục hồi của ngành. Vào ngày 25/12, Bộ GTVT đã ban hành Thông tư 39/2023/TT-BGTVT về việc tăng giá sàn xếp dỡ container. Theo Vndirect Research, thông tư này sẽ góp phần cải thiện biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp khai thác cảng container. Bên cạnh đó, tình hình gián đoạn tại Biển Đỏ khiến giá cước tăng trong ngắn hạn.

Đối với các doanh nghiệp bất động sản nhà ở , giai đoạn khó khăn nhất đã qua và sẽ từng bước tiến lên từ nửa cuối năm 2024. Theo Vndirect, những nút thắt của bất động sản nhà ở đang dần được nới lỏng và đã xuất hiện những kết quả tích cực nhất định.

Mặt bằng lãi suất cho vay giảm đã trở nên dễ tiếp cận hơn đối với các chủ đầu tư, và được kỳ vọng sẽ hỗ trợ nhu cầu mua nhà tích cực hơn trong thời gian tới. Các doanh nghiệp đã tiến hành cơ cấu lại nợ để cải thiện tình hình tài chính. Thách thức về nguồn vốn đã dịu lại.

Đối với bất động sản khu công nghiệp , thị trường KCN miền Bắc được dự đoán tươi sáng hơn với dự báo giai đoạn 2024-2027 sẽ tiếp tục bùng nổ nguồn cung mới. Nhiều tập đoàn công nghệ lớn đang có kế hoạch cụ thể để chuyển dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam, với vị trí tiếp giáp Trung Quốc, thị trường miền Bắc sẽ trở thành điểm đến phù hợp, nắm bắt xu hướng chuyển dịch điện tử này.

Đối với ngành thép , nhu cầu thép sẽ tăng trưởng trở lại nhờ thị trường bất động sản trong nước được kỳ vọng tiếp tục ấm lên trong giai đoạn 2024-2025. Giá thép sẽ có chuyển biến tích cực hơn vào năm 2024, do mức tồn kho đã giảm xuống mức kỷ lục và thị trường BĐS Trung Quốc được dự báo phục hồi nhẹ từ nền thấp của năm 2023 nhờ các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ Trung Quốc. Giá đầu vào ổn định hơn.

Đối với ngành tiêu dùng , chỉ số niềm tin người tiêu dùng có tín hiệu phục hồi. Lượng khách du lịch tăng trở lại sẽ thúc đẩy các hoạt động lưu trú, ăn uống và giải trí, giúp nhu cầu tiêu dùng cải thiện đáng kể vào năm 2024. Các công ty hàng tiêu dùng thiết yếu sẽ được hưởng lợi đầu tiên khi dấu hiệu về nhu cầu phục hồi rõ ràng hơn do người tiêu dùng có xu hướng ưu tiên các sản phẩm thuộc ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG).

Đối với doanh nghiệp dầu khí , Vndirect Research kỳ vọng nguồn cung thắt chặt sẽ hỗ trợ giá dầu với dự báo giá dầu Brent đạt mức trung bình 85 USD/thùng trong năm 2024. Đầu tư vào lĩnh vực thượng nguồn dự kiến sẽ tiếp tục đà tăng trong một vài năm tới, là tín hiệu tích cực cho các đơn vị cung cấp dịch vụ thượng nguồn Dầu khí. Triển vọng thị trường vận tải Dầu khí dự báo sẽ duy trì ổn định, tạo môi trường thuận lợi cho các đơn vị vận tải trong một vài năm tới.

Nguồn: https://cafef.vn/tu-nhung-chuyen-bien-trong-vi-mo-den-co-hoi-cho-doanh-nghiep-trong-cac-linh-vuc-xuat-khau-bds-khu-cong-nghiep-fmcg-188240318085801448.chn

]]>
/tu-nhung-chuyen-bien-trong-vi-mo-den-co-hoi-cho-doanh-nghiep-trong-cac-linh-vuc-xuat-khau-bds-khu-cong-nghiep-fmcg/feed/ 0
Nâng cao năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế /nang-cao-nang-luc-canh-tranh-va-muc-do-on-dinh-cua-he-thong-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te/ /nang-cao-nang-luc-canh-tranh-va-muc-do-on-dinh-cua-he-thong-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te/#respond Wed, 13 Mar 2024 11:28:59 +0000 /?p=2458 Summary

International economic integration not only brings opportunities but also creates many challenges that Vietnam’s commercial banking system face, such as: ensuring financial stability, improving the competitiveness against the foreign banks, improving governance capacity and sustainable development… The article analyzes the overall picture of the competitiveness and stability of Vietnam’s commercial banking system in the global integration process, thereby proposing practical solutions, enhancing the position of Vietnam’s commercial banking system in the international market.

Keywords: economic integration, competitiveness, commercial banks, stability

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội nhập kinh tế quốc tế theo xu thế tự do hóa tài chính được coi là hướng đi thích hợp trong bối cảnh hiện nay và được nhiều quốc gia lựa chọn. Việt Nam trong xu thế chung, đã không ngừng thúc đẩy việc tiến hành tự do hóa tài chính thông qua mở rộng quy mô và thị trường hợp tác thương mại quốc tế. Tuy nhiên, việc tham gia hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế cùng với những cơ hội được mở ra, thì cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho lĩnh vực tài chính ngân hàng. Áp lực cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM trong nước và ngân hàng quốc tế ngày một gia tăng. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến hết năm 2022, tại Việt Nam có 12 ngân hàng 100% vốn nước ngoài với tổng tài sản đạt 2.071.475 tỷ đồng, tăng 6,34% so với năm 2020. Theo đó, các NHTM trong nước phải đối mặt với nguy cơ sáp nhập hoặc bị mua lại từ phía các ngân hàng nước ngoài nếu kinh doanh không hiệu quả. Viễn cảnh này cũng đã từng xảy ra đối với các doanh nghiệp niêm yết trong lĩnh vực sản xuất và thương mại. Điều này vô hình chung tạo ra sức ép đối với các NHTM Việt Nam và buộc các ngân hàng này nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Do vậy, đánh giá toàn cảnh về bức tranh năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay vừa mang tính cấp bách và vừa có giá trị thực tiễn cao.

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ MỨC ĐỘ ỔN ĐỊNH NỘI TẠI CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

Năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định nội tại của hệ thống NHTM Việt Nam được biểu hiện thông qua một số chỉ tiêu tài chính và phi tài chính như sau:

Tỷ lệ an toàn vốn và khả năng thanh khoản

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đồng nghĩa với việc xóa bỏ những ưu đãi tiến tới cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng trên bình diện quốc tế. Năng lực tài chính là yếu tố cực kỳ quan trọng đánh giá mức độ tự chủ và khả năng cạnh tranh của mỗi ngân hàng. Năng lực tài chính của ngân hàng còn là căn cứ để xác định các tỷ lệ an toàn. Với ý nghĩa đó, để tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, vốn của các ngân hàng nội địa phải đảm bảo tỷ lệ an toàn cao hơn tỷ lệ tối thiểu. Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của NHNN đến cuối năm 2022, tổng số vốn tự có của các NHTM áp dụng Thông tư số 41/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi tắt là Thông tư 41) là 422.786 tỷ đồng, tăng 15,23% so với đầu năm. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) đạt ở mức 9,04%. Trong khi đó, tổng số vốn tự có của các NHTM cổ phần đã áp dụng Thông tư 41 là 722.854 tỷ đồng, tăng 18,52% so với đầu năm (Bảng 1). Tỷ lệ an toàn vốn của khối ngân hàng này cao hơn khá nhiều so với các NHTM nhà nước, đạt 12,29%. Theo đó, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cũng có tỷ lệ an toàn vốn với con số khá ấn tượng, đạt 18,61% tính theo Thông tư 41 vào cuối năm 2022.

Bảng 1: Vốn tự có và tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống NHTM tại Việt Nam

theo Thông tư 41/2016/TT- NHNN

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của NHNN (2022) 

Nhìn chung, hệ số CAR được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây và dần tiệm cận với những tiêu chuẩn của Basel III, tạo ra tấm đệm vững chắc cho việc tăng trưởng tín dụng trong tương lai. Trong hệ thống NHTM Việt Nam, hiện có hơn 20 ngân hàng đã áp dụng tiêu chuẩn Basel II, trong đó có 6 ngân hàng đã hoàn thành cả 3 trụ cột. Một số ít ngân hàng đã bắt đầu chuyển sang đáp ứng những tiêu chuẩn của Basel III. Những động thái này sẽ giúp các ngân hàng quản trị rủi ro và an toàn vốn hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia trong khu vực ASEAN thì tỷ lệ CAR trung bình của hệ thống NHTM Việt Nam thấp hơn nhiều so với ngân hàng trong khu vực. Tỷ lệ này bình quân của Indonesia là 22,6%, của Philippines là 17,2%, của Singapore là 17,1%, Thái Lan 19,6%, Malaysia 18,5%. Thêm vào đó, tỷ lệ CAR của các ngân hàng quốc doanh chỉ cao hơn mức tối thiểu một chút và thấp hơn so với các ngân hàng tư nhân và ngân hàng nước ngoài.

Bảng 2: So sánh hệ số CAR của Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực


Tỷ lệ an toàn vốn CAR của các ngân hàng Việt Nam được cải thiện nhưng vẫn chậm và ở mức thấp so với các ngân hàng trong khu vực. Điều này tạo ra rào cản đảm bảo mức độ ổn định tài chính và gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường của các NHTM trong nước. Trong khi đó, các NHTM trong khu vực đã thực hiện áp dụng Basel III hoặc một phần của Basel III, các NHTM Việt Nam mới đang trong giai đoạn triển khai Basel II. Chính vì vậy, các NHTM Việt Nam cần một bước tiến dài và nhanh hơn nữa để bắt kịp xu hướng, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh với ngân hàng khối ngoại đang chiếm lĩnh thị phần ngày càng gia tăng tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, thanh khoản của toàn ngành ngân hàng có chiều hướng đi xuống tại thời điểm cuối năm 2021. Tỷ lệ thanh toán của tài sản giảm từ 22,83% xuống chỉ còn 12,12%, chủ yếu là do lượng tài sản thanh khoản của các ngân hàng đã giảm khoảng 35% so với thời điểm cuối năm 2020. Tổng tiền gửi năm 2021 đã tăng hơn 22% so với năm 2020, trong khi tổng dư nợ cho vay đạt gần 24%, do đó, chỉ số về dư nợ và tiền gửi gần như tương đương vào cuối năm 2020. Trong khi đó, dư nợ trung và dài hạn chỉ tăng ở mức gần 8,3%, một phần do các NHTM siết chặt hơn các chính sách về cho vay cũng như nhu cầu vay dài hạn để đầu tư cho xây dựng và mở rộng sản xuất đã suy giảm khá nhiều sau thời gian giãn cách kéo dài bởi ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, xét trên tổng thể toàn ngành ngân hàng, các chỉ số về thanh khoản vẫn đang ở mức cho phép và không tiềm tàng quá nhiều nguy cơ rủi ro.

Thị phần và chất lượng tín dụng

Trong 5 năm trở lại đây, thị phần tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam có sự phân chia rõ rệt, trong đó thị phần cho vay của khối NHTM nhà nước vẫn chiếm chủ yếu là 51,8%, nhóm NHTM cổ phần là 41,3% và NHTM nước ngoài là 6,9%. Trong giai đoạn từ năm 2016-2020, tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ nợ nhóm 2 có xu hướng giảm. Việc tích cực giảm tỷ lệ nợ xấu hàng năm cho thấy, chất lượng tài sản của ngân hàng có sự cải thiện qua từng năm. Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay, dưới áp lực của nền kinh tế cũng như diễn biến dịch bệnh phức tạp, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng trở lại (từ 1,4% năm 2020 tăng lên 1,62% năm 2021), nhưng các tỷ lệ vẫn được giữ ở trong ngưỡng an toàn. Tỉ lệ bao phủ nợ xấu có sự tăng trưởng mạnh qua các năm (Hình).

Hình: Tỷ lệ nợ xấu và nợ bao phủ của hệ thống NHTM Việt Nam


Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của NHNN (2022)

Theo số liệu của IMF (2022), hiện nay tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ bao phủ của các NHTM Việt Nam vẫn cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực (Bảng 3).

Bảng 3. So sánh tỷ lệ nợ xấu và nợ bao phủ của Việt Nam

với một số quốc gia trong khu vực

Nhìn chung, tỷ lệ nợ xấu và nợ bao phủ của Việt Nam vẫn cao hơn tương đối so với Singapore và Indonesia, nhưng thấp hơn một số quốc gia như Thái Lan hay Philippines. Điều này có được là do những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong vấn đề xử lý nợ xấu của nền kinh tế. Trong thời gian qua, tại Việt Nam, mặc dù VAMC đã đồng hành cùng các tổ chức tín dụng và các công ty Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản NHTM (Asset Management Company – AMC) khác, đưa tỷ lệ nợ xấu toàn ngành Ngân hàng về dưới 3%, tuy nhiên đây vẫn chỉ là biện pháp làm sạch bảng cân đối kế toán của hệ thống ngân hàng, trong khi con số nợ chưa xử lý ước tính lên đến 10,1% tổng dư nợ hệ thống ngân hàng. Trên thực tế, thị trường mua bán nợ Việt Nam còn chưa hoàn thiện, các công cụ xử lý nợ vẫn còn thô sơ và quá trình xử lý các khoản nợ tồn đọng trong nhiều năm qua còn gặp nhiều khó khăn.

Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời

Tỷ lệ NIM toàn ngành duy trì quanh mức 3%-3,3% trong giai đoạn 2016-2020. Trong 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng của dại dịch Covid-19, nhưng tỷ lệ NIM trung bình của hệ thống NHTM vẫn duy trì ở mức 3,34%, chỉ giảm nhẹ so với năm 2019 (3,37%). Năm 2020, trong 27 ngân hàng, có 12 ngân hàng có tỷ lệ NIM đạt trên trung bình toàn ngành (3,3%). Tỷ lệ này tương đối cao so với một số NHTM trong khu vực như Trung Quốc (2,1%), Malaysia (1,8%) và Singapore (1,6%) nhưng lại thấp hơn một số quốc gia như Indonesia (5,2%) hay Philippines (4,2%).

Bên cạnh đó, khả năng sinh lời của các ngân hàng còn được thể hiện qua một số chỉ số khác bao gồm: tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA). Trong năm 2021, theo báo cáo của NHNN, chỉ tiêu ROA và ROE của hệ thống NHTM Việt Nam đạt trung bình lần lượt là 1,09% và 12,61%. Trong đó, các NHTM nhà nước có tỷ lệ ROA và ROE lần lượt là 0,85% và 14,81%, các NHTM cổ phần là 1,36% và 14,42%, cuối cùng khối các ngân hàng nước ngoài là 0,85% và 5,94%. Theo thông lệ quốc tế, chỉ số ROA > 0,5% được xem là chấp nhận được, tuy nhiên ROA > 1% sẽ là mức lý tưởng hơn (bình quân 1,1% ở các nước báo cáo FSIs), trong khi chỉ số ROE có thể dao động ở mức 10%-20% là phù hợp (bình quân 10,8% ở các nước báo cáo FSIs, trong đó 14,6% ở nhóm G20). Nhìn chung, các chỉ tiêu này của hệ thống NHTM Việt Nam đều nằm trong tiêu chuẩn chung, song nếu xem xét chi tiết có thể thấy chỉ tiêu ROA của nhóm các NHTM nhà nước thấp hơn so với các NHTM cổ phần và hiện đang tương đương với nhóm ngân hàng nước ngoài. Điều đó cho thấy, mặc dù tổng tài sản của nhóm NHTM nhà nước là cao nhất, song hiệu quả khai thác tài sản của nhóm này thấp hơn các NHTM cổ phần và ngân hàng nước ngoài.

Trình độ công nghệ và nguồn nhân lực ngân hàng

Trong thời gian gần đây, các NHTM Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực trong quá trình thực hiện chiến lược ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số. Tuy quá trình này ở Việt Nam chỉ ở giai đoạn đầu, song về cơ bản hệ thống NHTM đã có những nỗ lực và hành động cụ thể nhằm từng bước đạt được các cấp độ chuyển đổi số. Số liệu thống kê của NHNN (2022), hiện nay có đến 95% tổ chức tín dụng đã, đang hoặc dự tính sẽ xây dựng chiến lược chuyển đổi số; có 39% tổ chức tín dụng phê duyệt chiến lược chuyển đổi số riêng biệt hoặc tích hợp trong chiến lược phát triển công nghệ thông tin; 42% các tổ chức tín dụng đang hoàn thiện chiến lược chuyển đổi số [1]. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số của hệ thống NHTM Việt Nam gặp không ít thách thức từ hệ thống chính sách; hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ; nguồn lực đầu tư; khả năng quản trị rủi ro trong ứng dụng ngân hàng số… Nếu các thách thức này không được tháo gỡ một cách kịp thời sẽ trở thành rào cản trong việc gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường của khối NHTM nội địa.

Đối với nguồn nhân lực, trong thời gian qua, các NHTM Việt Nam đã sử dụng nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua nâng cao chất lượng tuyển dụng đầu vào, áp dụng chính sách ưu đã thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao hay chú trọng công tác đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên hiện có. Nhờ vậy mà chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và sự chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng kỹ năng về công nghệ và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế còn thiếu. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao còn ít so với nhu cầu ngày càng cao của ngành, đặc biệt với đội ngũ chuyên gia làm công tác an ninh thông tin.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Để nâng cao năng lực cạnh tranh và mức độ ổn định hệ thống ngân hàng cần tập trung thực thi một số nhóm giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục xử lý nợ xấu của các NHTM. Nợ xấu không chỉ gây ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh cũng như mức độ ổn định của hệ thống NHTM Việt Nam, mà còn ảnh hưởng đến các chủ thể trong nền kinh tế. Do đó, giải quyết nợ xấu không chỉ là việc làm riêng của NHNN và hệ thống NHTM, mà cần có sự tham gia của toàn bộ các cơ quan quản lý nhà nước đồng hành cùng hệ thống doanh nghiệp nói chung. Để xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam, cần có các giải pháp đồng bộ từ nhiều bên liên quan như: (i) Bản thân mỗi NHTM cần chủ động tăng mức trích lập dự phòng các khoản nợ xấu trong điều kiện cho phép và phù hợp với tình hình thực tế của chính ngân hàng đó, có thể chấp nhận giảm lợi nhuận; (ii) Chính phủ cần cho phép một số ngân hàng trong nước hoặc ngân hàng nước ngoài có tiềm lực tài chính lớn, quản trị doanh nghiệp tốt mua lại những ngân hàng yếu kém trên cơ sở có sự hỗ trợ và kiểm soát từ phía NHNN; (iii) Giảm hoặc miễn các loại thuế (thuế GTGT, thuế Thu nhập doanh nghiệp…), các thủ tục không cần thiết và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động mua bán nợ nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển của thị trường mua bán nợ hoạt động hiệu quả hơn.

Thứ hai, gia tăng vốn tự có của các NHTM Việt Nam. Đảm bảo an toàn vốn tự có là một trong ba trụ cột có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự an toàn và hoạt động lành mạnh của hệ thống NHTM. Chính vì lẽ đó, việc tái cấu trúc vốn tự có là một cấu phần quan trọng của quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM Việt Nam. Việc gia tăng vốn tự có theo đó trở thành một vấn đề cần triển khai trong thời gian tới tại các NHTM Việt Nam thông qua thực thi các giải pháp đồng bộ từ phía cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống ngân hàng, gồm: (i) Cho phép các NHTM được chủ động cân đối và quyết định việc sử dụng nguồn cổ tức các năm để tăng vốn cho năm tiếp theo; (ii) Tạo hành lang pháp lý cho các NHTM triển khai phương án phát hành cổ phiếu ra công chúng; (iii) NHTM tăng cường năng lực quản trị rủi ro nhằm giảm chi phí dự phòng, từ đó giúp ngân hàng bảo toàn quy mô vốn tự có; (iv) Hệ thống NHTM cần nỗ lực trong việc thu hút nhà đầu tư tài chính trong và ngoài nước nhằm tận dụng khả năng mở rộng quy mô vốn, tiếp cận năng lực quản trị và công nghệ hiện đại trong quản lý hoạt động ngân hàng.

Thứ ba, xây dựng chiến lược cạnh tranh hiệu quả. Muốn tạo ra chiến lược cạnh tranh hiệu quả, ngân hàng cần tận dụng được lợi thế về nguồn lực mình đang có nhằm tiết kiệm chi phí, tạo ra sản phẩm dịch vụ đảm bảo chất lượng và sự phù hợp về giá so với các đối thủ cạnh tranh. Hội nhập sẽ dẫn đến sự tham gia mạnh mẽ của nhiều ngân hàng nước ngoài nhưng nếu các NHTM trong nước biết cách hợp tác với các đối tác tiềm năng này sẽ có cơ hội tận dụng khai thác các thế mạnh của họ về công nghệ, trình độ quản trị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ. Đồng thời, sự phát triển của công nghệ ngân hàng còn là chìa khóa giúp các ngân hàng không những tạo ra sản phẩm dịch vụ tiên tiến, mà còn giảm bớt chi phí hoạt động, gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và hướng ngân hàng tiến tới sự phát triển bền vững.

Thứ tư, xây dựng và hoàn thiện các giải pháp ứng phó kịp thời với những biến động của nền kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước. Sự ứng phó trước những cú sốc từ nền kinh tế vĩ mô không chỉ đòi hỏi bản thân các NHTM Việt Nam phải tự nâng cao năng lực quản trị điều hành, duy trì một tỷ lệ vốn tự có hợp lý để chống đỡ rủi ro mà cần có sự tham gia quản lý điều tiết chính sách từ phía các cơ quan quản lý nhà nước nhằm bình ổn thị trường tiền tệ, kiểm soát các biến số kinh tế vĩ mô… tạo môi trường kinh doanh ổn định cho các NHTM.

Thứ năm, nâng cao năng lực quản trị và phát triển nguồn nhân lực. Các NHTM Việt Nam cần dần tiến tới xây dựng năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế, hướng tới sự tinh gọn và hiệu quả. Trước hết, cần hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy từ Hội sở đến các chi nhánh, tập trung phát triển kênh phân phối điện tử, giảm thiểu chi nhánh hữu hình. Bên cạnh đó, cần tập trung tới yếu tố con người, bởi trong sự cạnh tranh có thể bắt chước công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nhưng yếu tố con người khó có thể bắt chước. Do đó, các NHTM cần xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực đủ về lượng, nhưng đảm bảo về chất. Có chế độ đãi ngộ và tạo môi trường làm việc tốt nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng các yêu cầu trong quá trình hội nhập và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng hiện có tại ngân hàng./.

TS. Nguyá»…n Thị Thu Hà – Học viện Hành chính Quốc gia

(Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 22, tháng 8/2023)

Nguồn: https://kinhtevadubao.vn/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-va-muc-do-on-dinh-cua-he-thong-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-28357.html

]]>
/nang-cao-nang-luc-canh-tranh-va-muc-do-on-dinh-cua-he-thong-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te/feed/ 0